Đại hội

Tiên Tri Giê-rê-mi

Ta sẽ rao sự xét đoán Ta nghịch cùng chúng nó, vì mọi điều ác chúng nó đã làm; bởi chưng chúng nó đã lìa bỏ Ta, đốt hương cho các thần khác, và thờ lạy việc tay mình làm ra. Vậy, ngươi hãy thắt lưng, chờ dậy, bảo cho chúng nó mọi sự mà Ta truyền cho ngươi. Đừng sợ sệt vì cớ chúng nó, kẻo Ta làm cho ngươi sợ sệt trước mặt chúng nó chăng. Nầy, ngày nay, Ta lập ngươi lên làm thành vững bền, làm cột bằng sắt, làm tường bằng đồng, nghịch cùng cả đất nầy, nghịch cùng các vua Giu-đa, các quan trưởng nó, các thầy tế lễ, và dân trong đất.”
(Giê-rê-mi 1:16-18)

"Ôi! tôi đau lòng, đau lòng! Cơn đau đớn quặn thắt lòng tôi; lòng đương bối rối trong tôi. Tôi không thể làm thinh! Hỡi linh hồn tôi, vì mầy nghe giọng kèn và tiếng giặc giã."
(Giê-rê-mi 4:19)

Ôi! ước gì đầu tôi là suối nước, mắt tôi là nguồn lụy! hầu cho tôi vì những kẻ bị giết của con gái dân ta mà khóc suốt ngày đêm.”
(Giê-rê-mi 9:1)

Sau khi đọc bài giảng này, xin quý vị và các bạn nghe phần audio (1) và (2) hoặc xem phần video (1) và (2) vì trong khi giảng có nhiều chi tiết hơn bài giảng viết.

Trong phần audio (2) và video (2) người giảng đã lầm lẫn tên của Ghi-đê-ôn với tên của Giô-suê trong sự kiện Ghi-đê-ôn làm một cái ê-phót và cái ê-phót đó đã trở thành cái bẫy cho gia đình ông và dân Y-sơ-ra-ên. Thành thật xin lỗi và kính cáo cùng quý thính giả. Tim Huỳnh.

Nghe audio (1) - Nghe audio (2)

Xem video (1) - Xem video (2)

Giê-rê-mi là một trong các tiên tri lớn thời Cựu Ước. Chữ “lớn” được nói đến ở đây bao gồm nhiều phương diện. Lớn vì thời gian mục vụ kéo dài hơn các tiên tri khác (626 TCN – 586 TCN) [1]; lớn vì Giê-rê-mi đặc biệt được Đức Chúa Trời chọn làm tiên tri cho các nước từ trước khi ông được hình thành trong lòng mẹ (Giê-rê-mi 1:4, 5); và lớn là vì ông là tiên tri duy nhất nhận sứ mạng từ Đức Chúa Trời để đứng lên “nghịch cùng cả đất nầy, nghịch cùng các vua Giu-đa, các quan trưởng nó, các thầy tế lễ, và dân trong đất.”

Giê-rêmi cũng là tiên tri duy nhất của Đức Chúa Trời mà qua Thánh Kinh chúng ta có thể biết nhiều về tư cách, đời sống riêng tư cùng những tâm tình thầm kín của ông. Suốt cuộc đời của ông dính liền với các biến cố lịch sử của vương quốc Giu-đa. Sự dũng cảm, cương trực, và trung tín của ông với sứ mạng Đức Chúa Trời giao phó được thể hiện trong những lời tiên tri nghịch cùng mọi tầng lớp trong xã hội Giu-đa đương thời. Ông là một trong những tiên tri nhìn thấy sự ứng nghiệm của những điều mình rao giảng. Lòng ông quặn thắt trước tội lỗi của dân tộc ông. Sự quặn thắt đó được thể hiện trong những lời cầu nguyện và rao giảng của ông. Trong nơi riêng tư, một mình với Chúa, ông thẳng thắn bộc bạch hết những cảm xúc và suy nghĩ của ông với Ngài. Ông xác định Chúa là công bình nhưng vẫn thẳng thắn đòi “biện luận” cùng Chúa về sự thạnh vượng của kẻ ác (12:1) [2]. Dưới áp lực của nghịch cảnh trong chức vụ và sự đau đớn trong lòng về tội lỗi của dân tộc - ông hỏi Chúa tại sao không chữa lành sự đau đớn của ông (15:18) [3] và những lúc bị khủng hoảng nhất ông cũng than thân trách phận (15:10; 20:14-18).

Giê-rê-mi sẵn sàng chịu tù đầy và thậm chí chịu mất mạng để lên án dân tộc của mình về tội lỗi của họ một cách cứng rắn, không khoan nhượng, đồng thời báo trước sự diệt vong tàn khốc sẽ đến nếu họ không chịu ăn năn nhưng lòng ông cũng tan nát trước nếp sống tội lỗi của họ. Cuối cuộc đời, sự đau đớn của Giê-rê-mi lên đến tột đỉnh khi ông chứng kiến sự hủy diệt của dân tộc và đất nước Giu-đa bởi đế quốc Ba-by-lôn vào năm 586 trước Công Nguyên. Ông đã đổ nước mắt mà viết nên những bài ca thương ai oán để than khóc mà ngày nay vẫn còn được nhiều người Do-thái đọc hàng tuần trước Bức Tường Than Khóc tại Giê-ru-sa-lem [4]. Vì thế, Giê-rê-mi còn được người đời sau biết đến với biệt danh “Nhà Tiên Tri Khóc.”

    I. Bối Cảnh Lịch sử Nước Giu-đa thời Giê-rê-mi

 

Vào khoảng năm 931 TCN, sau khi Vua Sa-lô-môn qua đời, Rô-bô-am, con trai của Sa-lô-môn được toàn dân Y-sơ-ra-ên tôn lên làm vua (I Các Vua 12). Tuy nhiên, vì cớ tội ác thờ tà thần của Sa-lô-môn mà Đức Chúa Trời đã lấy 10 chi phái ra khỏi quyền cai trị của Rô-bô-am và lập Giê-rô-bô-am, một tôi tớ của Sa-lô-môn, làm vua của 10 chi phái này. Từ đó Y-sơ-ra-ên phân chia thành hai vương quốc. Vương quốc phía Nam được gọi là “Giu-đa” gồm chi phái Giu-đa, chi phái Bên-gia-min và những người thuộc các chi phái khác đang sống tại các thành của Giu-đa. Vương quốc phía Bắc bao gồm 10 chi phái còn lại của Y-sơ-ra-ên và giữ nguyên tên nước là “Y-sơ-ra-ên.”

Sau khi lên làm vua 10 chi phái của Y-sơ-ra-ên, Giê-rô-bô-am sợ dân sự đi đến Giê-ru-sa-lem thờ phượng Chúa trong đền thờ sẽ trở lòng quay lại cùng Rô-bô-am nên ông cho đúc hai tượng bò vàng, để tại Bê-tên và Đan, tạo lập nhiều nơi thờ tự trên các nơi cao, phong chức tế lễ cho những người không thuộc dòng Lê-vi, và tự mình làm công việc dâng hương trên bàn thờ trong ngày đại lễ thờ phượng do chính ông đặt ra. Như vậy, Giê-rô-bô-am tái lập sự thờ phượng Đức Chúa Trời qua hình tượng và theo ý riêng trong vương quốc Y-sơ-ra-ên (I Các Vua 12) mà sau này vương quốc Giu-đa cũng bắt chước trong các triều đại của những ông vua xấu. Trong khi đó, tại vương quốc Giu-đa phía Nam, Rô-bô-am và dân Giu-đa phạm tội thờ thần Át-tạt-tê, thậm chí dung dưỡng cho những kẻ đồng tính luyến ái trong các đền thờ tà thần và phạm những sự gớm ghiếc với họ (I Các Vua 14). Trong suốt 60 năm kế tiếp, những cuộc Nam chinh Bắc chiến liên tục xảy ra giữa hai vương quốc anh em.

Vương quốc Y-sơ-ra-ên tồn tại 209 năm qua 20 triều đại, dân chúng liên tục thờ lạy thần tượng, không có một vua nào của Y-sơ-ra-ên biết kính sợ Đức Chúa Trời. Nổi bật nhất là dưới triều đại A-háp với sự chuyên quyền của Hoàng Hậu Giê-sa-bên. Trong 21 năm cầm quyền, A-háp đã để cho Giê-sa-bên lộng quyền biến sự thờ lạy tà thần Ba-anh và Át-tạt-tê thành quốc giáo, đến nổi các hệ thống thầy tế lễ cho hai tà thần này có lúc lên đến 850 người được ăn uống trong cung hoàng hậu (I Các Vua 18:19). Năm 722 TCN Đức Chúa Trời đã dùng đế quốc A-si-ri tiêu diệt nước Y-sơ-ra-ên. Những người còn sống sót bị lưu đày qua A-si-ri.

Vương quốc Giu-đa cũng đi theo thói tục thờ lạy thần tượng của vương quốc Y-sơ-ra-ên (II Các Vua 17:19). Tuy nhiên, nhờ có nhiều vua tốt biết kính sợ Đức Chúa Trời cho nên sự đoán phạt đến chậm hơn là vương quốc Y-sơ-ra-ên. Tính từ triều đại của Rô-bô-am cho đến triều đại của Giô-si-a, là khi Giê-rê-mi được Chúa dấy lên làm tiên tri, vương quốc Giu-đa trải qua 292 năm với 16 đời vua. Trong đó, có 231 năm dưới sự cai trị của bảy ông vua tốt, biết kính sợ Chúa [5]. Giô-si-a là ông vua tốt thứ tám và là ông vua tốt cuối cùng, cai trị Giu-đa trong 31 năm trước khi bị tử trận trong cuộc chiến với Pha-ra-ôn Nê-cô của Ai-cập vào năm 608 TCN.

    Giô-si-a lên ngôi vua lúc mới tám tuổi (639 TCN - 608 TCN). Tám năm sau, ở lứa tuổi 16, Giô-si-a đã có lòng tìm kiếm Đức Chúa Trời và năm 20 tuổi ông khởi sự công cuộc thanh tẩy vương quốc Giu-đa khỏi sự thờ lạy thần tượng. Công tác thanh tẩy này kéo dài trong suốt sáu năm, do chính Giô-si-a giám sát, bao gồm sự triệt hạ những nơi thờ phượng tà thần trên cao, phá dỡ các bàn thờ và tượng Ba-anh, A-sê-ra, những trụ thờ mặt trời... trên toàn vương quốc (II Sử Ký 34). Thánh Kinh chép về Giô-si-a như sau:

    "Trước Giô-si-a, chẳng có một vua nào hết lòng, hết ý, hết sức mình, mà tríu mến Đức Giê-hô-va, làm theo trọn vẹn luật pháp của Môi-se; và sau người cũng chẳng có thấy ai giống như người nữa." (II Các Vua 23:25)

    Vào năm thứ 18 triều Giô-si-a, trong khi tu bổ đền thờ theo lệnh vua, người ta tìm được sách luật pháp của Môi-se trong đền thờ và đem đọc cho vua nghe. Vừa nghe đọc các lời của luật pháp Giô-si-a liền xé quần áo mình, ra lệnh cho thầy tế lễ và quần thần đến gặp nữ Tiên Tri Hun-đa để cầu vấn Đức Chúa Trời. Tiên tri trả lời rằng: Đức Chúa Trời sẽ hoàn thành mọi tai vạ đã ghi chép trong sách luật pháp trên vương quốc Giu-đa vì cớ tội lỗi thờ thần tượng của dân sự. Tuy nhiên, hình phạt đó sẽ giáng xuống sau khi Giô-si-a bình an qua đời (II Các Vua 22). Giô-si-a bèn ra lệnh triệu tập toàn dân để đọc sách luật pháp cho họ nghe, thay mặt dân sự, ông tái lập sự hứa nguyện với Đức Chúa Trời và buộc toàn dân phải thờ phượng Đức Chúa Trời (II Sử Ký 34).

Điểm cần ghi nhớ trong lịch sử của vương quốc Giu-đa, là: Trong suốt 55 năm dưới triều Ma-na-se (hai triều đại trước Vua Giô-si-a), ông vua này đã phạm tội và quyến dụ dân Giu-đa phạm tội thờ thần tượng, xem sao, bói toán, đồng cốt, dâng con trai của mình làm của lễ thiêu cho tà thần, giết người vô tội khắp Giê-ru-sa-lem, dựng tượng tà thần trong đền thờ của Đức Chúa Trời, đến nổi Đức Chúa Trời phán về ông, rằng: “làm ác hơn mọi điều dân A-mô-rít đã làm trước người” (II Các Vua 21:12). Vì thế, Đức Chúa Trời quyết định đoán phạt vương quốc Giu-đa như Ngài đã đoán phạt vương quốc Y-sơ-ra-ên 83 năm trước đó. Tuy nhiên, với lòng thương xót, Đức Chúa trời vẫn ban cho vương quốc Giu-đa cơ hội để ăn năn như Ngài cũng đã ban cơ hội cho vương quốc Y-sơ-ra-ên (II Các Vua 17:13). Chính vì thế, Giê-rê-mi được Đức Chúa Trời dấy lên để làm tiên tri trong suốt 40 năm, kêu gọi dân Giu-đa ăn năn tội, trở lại đầu phục Đức Chúa Trời. Đáng tiếc thay, Giu-đa cũng cứng lòng như Y-sơ-ra-ên cho đến ngày tai họa giáng xuống mở đầu cho hơn 2,500 năm con cháu Áp-ra-ham, Y-sác, và Gia-cốp phải vong quốc, lưu lạc tha hương khắp đất và trở thành “một sự kinh hải, tục ngữ, và tiếu đàm” trong các dân tộc mà Chúa sẽ dẫn họ đến (Phục Truyền Luật lệ Ký 28:37)!

 

    II. Giê-rê-mi: Con người và sứ mạng


     

    1. Xuất thân: Giê-rê-mi là con của một thầy tế lễ tên là Hinh-kia, kiều ngụ tại A-na-tốt, một tiểu thôn thuộc vùng đất được chia cho chi phái Bên-gia-min nằm về phía Đông Bắc của Giê-ru-sa-lem khoảng chừng ba km. Cha của Giê-rê-mi khác với Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm Hinh-kia phục vụ tại Giê-ru-sa-lem đương thời, vì nếu không, Giê-rê-mi 1:1 chắc phải ghi rằng: "Giê-rê-mi con trai của Thầy Tế Lễ Thượng Phẩm Hinh-kia." Chúng ta không biết Giê-rê-mi bước vào chức vụ năm bao nhiêu tuổi. Một số nhà giải kinh cho rằng lúc đó Giê-rê-mi đã được khoảng 23 tuổi, một số khác cho rằng lúc đó Giê-rê-mi chỉ vào khoảng 14, 15 tuổi. Căn cứ vào lời đáp của Giê-rê-mi với Đức Chúa Trời (1:6) chúng ta biết lúc được Chúa gọi Giê-rê-mi phải dưới tuổi thành niên của người Do-thái, tức dưới 20 tuổi (Dân Số Ký 14:29). Trọn đời của Giê-rê-mi ông vâng theo lời Chúa phán, sống độc thân (16:2).

    Tên Giê-rê-mi trong nguyên tác Hê-bơ-rơ có hai lối đánh vần khác nhau. Lối thứ nhất có nghĩa là: "Đức Chúa Trời thiết lập." Lối thứ hai có nghĩa là "Người bị Đức Chúa Trời ném xuống." Theo lối đánh vần nào thì ý nghĩa của tên Giê-rê-mi cũng đều xứng hợp với sứ mạng và sứ điệp của ông. Ông được Đức Chúa Trời thiết lập từ trước khi ông được hình thành trong bụng mẹ để "làm thành vững bền, làm cột bằng sắt, làm tường bằng đồng, nghịch cùng cả đất nầy, nghịch cùng các vua Giu-đa, các quan trưởng nó, các thầy tế lễ, và dân trong đất” (1:18). Sứ điệp của ông là: Dân Giu-đa nếu không ăn năn tội sẽ bị Đức Chúa Trời "ném đi, ném lại trong các nước thiên hạ" vì tội lỗi của họ (15:4).

    2. Sứ mạng: Vào năm 626 TCN, một năm sau khi Giô-si-a khởi công thanh tẩy Giu-đa thì Đức Chúa Trời kêu gọi Giê-rê-mi vào chức vụ tiên tri. Dân Giu-đa về mặt ngoài, "trọn đời Giô-si-a, chúng hằng theo Giê-hô-va Đức Chúa Trời của tổ phụ họ, chẳng lìa bỏ Ngài" (II Sử Ký 34:33) nhưng đó chỉ là sự thay đổi về hình thức vì cớ Giô-si-a buộc họ phải dẹp tà thần và thờ lạy Đức Chúa Trời. Về mặt trong, dân Giu-đa không hề có sự thay đổi và Đức Chúa Trời đã dùng Giê-rê-mi để xét nghiệm họ:

    "Ta đã lập ngươi làm kẻ thử và đồn lũy giữa dân ta, đặng ngươi nhận biết và dò xem đường lối nó. Chúng nó thảy đều bạn nghịch quá lắm, đi dạo nói xấu, cứng như đồng như sắt, làm những sự bại hoại." (6:27, 28)

Sứ mạng của Giê-rê-mi trước hết là xét nghiệm dân Giu-đa để phơi bày mọi tội lỗi của họ; kế tiếp, ông mạnh mẽ lên án tội lỗi của họ; và sau cùng, dốc lòng kêu gọi họ ăn năn để được Đức Chúa Trời tha thứ.

Trong công tác xét nghiệm dân Giu-đa, Giê-rê-mi tìm thấy:

"Hãy đi dạo các đường phố Giê-ru-sa-lem, và nhìn xem, Hãy dò hỏi tìm kiếm nơi các chợ, thử có thấy một người chăng, nếu có một người làm sự công bình, tìm sự trung tín, thì Ta sẽ tha thứ cho thành ấy. Dầu chúng nó nói rằng: Thật như Đức Giê-hô-va hằng sống! ấy cũng là thề dối! Hỡi Đức Giê-hô-va, há chẳng phải mắt Ngài đoái xem sự trung tín sao?... Ngài đánh chúng nó, chúng nó chẳng biết lo buồn, Ngài diệt đi, chúng nó chẳng chịu dạy dỗ. Chúng nó tự làm cứng mặt mình hơn vầng đá, chẳng khứng trở lại. Tôi bèn nói: Đó thật là kẻ nghèo hèn, ngu muội, vì không biết đường lối của Đức Giê-hô-va, luật pháp của Đức Chúa Trời mình. Tôi sẽ đến cùng những người sang trọng mà nói với họ, vì họ biết rõ đường lối của Đức Giê-hô-va, sự công bình của Đức Chúa Trời mình... Song, những người nầy hợp ý cùng nhau mà bỏ ách dứt dây!" (5:1-5)

"Vì trong vòng họ, từ kẻ rất nhỏ cho đến người rất lớn, đều tham lam; từ kẻ tiên tri cho đến thầy tế lễ, đều làm sự giả dối." (6:13)

"Ngài đã vun trồng họ; họ đã đâm rễ, lớn lên và ra trái. Miệng họ ở gần Ngài, song lòng họ cách xa Ngài." (12:2)

Trong công tác lên án tội lỗi, Giê-rê-mi không hề rụt rè hay khoan nhượng. Từ cung điện cho đến các cửa thành, ông mạnh mẽ và trung thực rao truyền trước mặt các tiên tri, các thầy tế lễ, và các vua cũng như khi ông rao truyền cho dân chúng. Ông còn ghi chép lại thành sách để đọc cho dân chúng nghe tại cửa đền thờ và các cửa thành:

"Nầy, các ngươi cậy những lời phỉnh phờ chẳng có ích gì. Các ngươi há chẳng trộm cướp, giết người, phạm tội tà dâm, thề dối, dâng hương cho Ba-anh, đi theo thần khác, là thần mình không biết hay sao?" (7:8, 9)

"Đức Giê-hô-va phán: Trong thời đó, người ta sẽ bới xương của các vua Giu-đa, xương của các quan trưởng, xương của các thầy tế lễ, xương của các tiên tri, và xương của các dân cư Giê-ru-sa-lem ra khỏi mồ mả. Người ta sẽ phơi những xương ấy ra dưới mặt trời, mặt trăng, và cơ binh trên trời, tức là những vật mà họ đã yêu mến, hầu việc, bước theo, tìm cầu, và thờ lạy. Những xương ấy sẽ chẳng được thâu lại, chẳng được chôn lại; sẽ như phân trên mặt đất. Mọi kẻ sót của họ hàng gian ác ấy còn lại trong mọi nơi ta đã đuổi chúng nó đến, chúng nó sẽ cầu chết hơn là sống, Đức Giê-hô-va vạn quân phán vậy." (8:1-3)

"Sao các ngươi nói được rằng: Chúng ta là khôn sáng, có luật pháp Đức Giê-hô-va ở với chúng ta? Nhưng, nầy, ngọn bút giả dối của bọn thông giáo đã làm cho luật pháp ấy ra sự nói dối! Những kẻ khôn sáng bị xấu hổ, sợ hãi, và bị bắt. Chúng nó đã bỏ lời của Đức Giê-hô-va; thì sự khôn ngoan nó là thể nào? Vậy nên, Ta sẽ ban vợ chúng nó cho kẻ khác, ruộng chúng nó cho chủ mới; vì từ kẻ rất nhỏ cho đến người rất lớn, ai nầy đều tham lam; từ tiên tri cho đến thầy tế lễ, ai nầy đều làm sự gian dối.

Chúng nó rịt vết thương cho con gái dân Ta cách sơ sài, nói rằng: Bình an, bình an! mà không bình an chi hết. Chúng nó làm ra sự gớm ghiếc, há lấy làm xấu hổ ư? đã chẳng xấu hổ chút nào, lại cũng không thẹn đỏ mặt. Vậy nên chúng nó sẽ ngã với những người vấp ngã. Đến ngày thăm phạt, chúng nó sẽ bị lật đổ, Đức Giê-hô-va phán vậy. Đức Giê-hô-va phán: Thật, Ta sẽ diệt hết chúng nó. Chẳng còn trái nho trên cây nho; chẳng còn trái vả trên cây vả; lá sẽ khô rụng; những điều Ta đã ban cho, sẽ bị cất lấy!" (8:8-13)

Và cuối cùng, trong công tác kêu gọi ăn năn, ông dốc nước mắt ra để nài nỉ dân tộc ông trở lại với Chúa để tránh họa diệt vong. Giê-rê-mi hy sinh hạnh phúc cá nhân và hiến cả cuộc đời của ông chỉ nhằm vào một mục đích duy nhất là đem dân tộc đến với sự ăn năn chân thật từ trong đáy lòng của họ. Trong sứ điệp, ông luôn nhấn mạnh, nếu dân sự ăn năn thì Đức Chúa Trời sẽ tiếp nhận họ trong ân điển nhưng có lẽ ông cũng cảm nhận được rằng họ không hề nghĩ đến chuyện ăn năn:

"Ôi! ước gì đầu tôi là suối nước, mắt tôi là nguồn lụy! hầu cho tôi vì những kẻ bị giết của con gái dân ta mà khóc suốt ngày đêm. Ôi! ước gì tôi có một cái quán khách bộ hành trong đồng vắng! để tôi được bỏ dân ta mà đi xa khỏi họ; vì họ thảy đều là kẻ tà dâm, ấy là một bọn quỉ trá." (9:1, 2)

 

III. Hai khuôn mặt của Giê-rê-mi

 

Trong suốt 40 năm, qua năm triều vua Giu-đa, Giê-rê-mi phải đối diện với những điều sau đây:

- Không lập gia đình (16:2)

- Bị người nhà, bạn bè, và đồng hương chống nghịch, mưu giết (11:21; 12:6; 20:10)

- Bị đánh đòn và bị giam cầm (20:2; 37:15, 16; 40:1)

- Sách bị đốt (36:23)

- Bị ném xuống hố (38:6)

- Theo truyền thuyết, sau khi bị Giô-ha-nan bắt đem qua Ai-cập, Giê-rê-mi tiếp tục lên án tội lỗi của dân Giu-đa đang lánh nạn tại Ai-cập (44) và ông đã bị dân Giu-đa ném đá chết tại Tác-pha-nết.

Dù bị đối xử bất công và phải trải qua nhiều nghịch cảnh, Giê-rê-mi vẫn vững vàng như "cột sắt, tường đồng," tận trung làm tròn sứ mạng được Đức Chúa Trời giao phó.

Sứ điệp của Tiên Tri Giê-rê-mi là hiện thân của sự thánh khiết, công chính, và sự nhơn từ của Đức Chúa Trời đối với dân Giu-đa nói riêng và đối với loài người nói chung. Vì thánh khiết và công chính nên Đức Chúa Trời không thể chấp nhận tội lỗi và Ngài phải tiêu diệt tội nhân. Vì nhân từ nên Đức Chúa Trời cho phép tội nhân một thời hạn để ăn năn tội và được Ngài tha thứ. Dân Giu-đa không nhìn thấy Đức Chúa Trời nhưng họ có thể nhìn thấy sự thánh khiết, công chính, và nhân từ của Ngài qua con người và sứ điệp của Giê-rê-mi. Nếu dân Giu-đa tiếp nhận sứ điệp của Giê-rê-mi là họ tiếp nhận sự nhân từ của Đức Chúa Trời. Nhưng dân Giu-đa đã chống nghịch sứ điệp của Giê-rê-mi nghĩa là họ đã khước từ ân điển của Chúa và chỉ còn sự đoán phạt kinh khiếp đến từ sự thánh khiết và công chính của Đức Chúa Trời dành cho họ mà thôi.

1. Khuôn mặt nghịch cùng dân sự: Sứ mạng của Giê-rê-mi là lên án tội lỗi của toàn thể dân tộc ông, từ vua, quan, thầy tế lễ, cho đến dân trong cả đất. Vì thế, ông đã trở nên người đối nghịch với tất cả mọi người. Trong thực tế, không phải cá nhân Giê-rê-mi lên án dân tộc ông mà là qua ông Đức Chúa Trời lên án họ:

Ta sẽ rao sự xét đoán Ta nghịch cùng chúng nó, vì mọi điều ác chúng nó đã làm; bởi chưng chúng nó đã lìa bỏ Ta, đốt hương cho các thần khác, và thờ lạy việc tay mình làm ra. Vậy, ngươi hãy thắt lưng, chờ dậy, bảo cho chúng nó mọi sự mà Ta truyền cho ngươi." (1:16, 17a)

Chúa phán: "Ta sẽ rao sự xét đoán Ta nghịch cùng chúng nó" và liền ngay đó, Chúa bảo Giê-rê-mi: "Vậy, ngươi hãy thắt lưng, chờ dậy, bảo cho chúng nó mọi sự mà Ta truyền cho ngươi." Vì thế, những lời Giê-rê-mi nghịch cùng dân sự chính là những lời Đức Chúa Trời nghịch cùng dân sự. Lý do khiến cho Chúa xét đoán nghịch cùng dân Giu-đa cũng như dân Y-sơ-ra-ên là "vì mọi điều ác chúng nó đã làm" và những điều ác họ đã làm là:

a) Lìa bỏ Chúa: nghĩa là không còn thờ phượng Chúa nữa, hoặc thờ phượng Chúa theo ý riêng, thờ phượng Chúa mà không vâng theo lời Chúa phán dạy. Khi Vua Giê-rô-bô-am của Y-sơ-ra-ên cho dựng tượng bò vàng, lập bàn thờ tại những nơi cao, phong chức tế lễ cho những người không thuộc dòng Lê-vi để bảo vệ ngôi vị của mình, ông đã lìa bỏ Chúa. Điểm cần chú ý là Giê-rô-bô-am không thờ lạy thần khác. Ông thờ lạy Đức Giê-hô-va qua hình tượng bò vàng và theo cách thức của riêng ông (I Các Vua 12:26-33).

Ngày nay, trong Hội Thánh của Chúa cũng có hiện tượng thờ phượng Chúa theo ý riêng, thờ phượng Chúa mà không vâng theo lời Chúa phán dạy. Điển hình là việc tôn kính cái gọi là "hình Chúa." Người ta trang trọng treo những tấm hình của một người đàn ông tóc dài phủ vai trong nhà thờ, nơi nhà riêng và tôn kính chúng nó, gọi đó là "hình của Đức Chúa Jesus," rồi chỉ vào đó, dạy cho con cháu của mình đó là "hình của Đức Chúa Jesus!" Người ta không biết rằng mình đã lấy ảnh tượng mà sánh với Chúa:

"Vậy thì các ngươi có thể ví Đức Chúa Trời với ai? Lấy ảnh tượng nào mà so sánh với Ngài được?" (Ê-sai 40:18)

Thánh Kinh ghi rõ:

"Chính lẽ tự nhiên há chẳng dạy cho anh em biết đàn ông để tóc dài thì lấy làm hổ thẹn sao?" (I Cô-rinh-tô 11:14)

Thế mà người ta ngang nhiên vẽ hình Chúa với bộ tóc dài và con dân Chúa từ đời này sang đời kia tôn kính những tấm hình đó.

Thánh Kinh cũng ghi:

"Phàm người đàn ông cầu nguyện hoặc giảng đạo mà trùm đầu lại, thì làm nhục đầu mình... Vả, đàn ông là hình ảnh và sự vinh hiển của Đức Chúa Trời, thì không nên trùm đầu." (I Cô-rinh-tô 11:4, 7)

Nhưng có những tấm hình gọi là hình Chúa, và có những bộ phim mà nhân vật đóng vai Chúa lại trùm khăn trên đầu.

Lý do đầu tiên khiến cho người ta tạo ra sự thờ phượng, hầu việc Chúa theo ý riêng có lẽ chính là vì muốn bảo vệ quyền lợi riêng của mình. Dân sự của Chúa vì thiếu hiểu biết Lời Chúa nên nghe theo sự sai trái của những người lãnh đạo! Một khi đã lìa bỏ Chúa thì việc làm kế tiếp đương nhiên sẽ là "đốt hương cho các thần khác."

b) Đốt hương cho các thần khác: Dân Y-sơ-ra-ên và Giu-đa ngày xưa đốt hương cho nhiều tà thần, trong đó nỗi bật nhất là Ba-anh (11:13), A-sê-ra (II Các Vua 21:3), và Nữ Vương Trên Trời (7:18; 44:17-19, 25). Đốt hương cho các thần khác tức là thờ phượng các thần khác như thờ phượng Đức Chúa Trời qua sự dâng hương và cúng tế, thấm chí dâng con đầu lòng làm của lễ thiêu cho Ba-anh.

Ngày nay, trong Hội Thánh cũng có những người sau khi thờ phượng, hầu việc Chúa theo ý riêng, nghĩa là sau khi lìa bỏ Chúa, đã đốt hương cho các thần khác, nghĩa là thờ phượng các thần khác. Những thần khác điển hình trong thế kỷ 21 này là "Thần Tôi," Thần Tài, Thần Tình Dục (bao gồm những quan hệ bất chính với người khác và sự say mê đủ loại văn hóa phẩm khiêu dâm), và Thần Bằng Cấp!

c) Thờ lạy việc tay mình làm ra: nghĩa là sấp mình thờ lạy những hình tượng tà thần do chính mình tạo ra, làm nhục hình ảnh của Đức Chúa Trời trong loài người.

Ngày nay, người ta thờ lạy những thành quả tinh thần lẫn vật chất như tài sản, danh tiếng, địa vị, chức vụ, quyền thế... tranh dành được qua sự thờ phượng và hầu việc Chúa theo ý riêng.

 

2. Khuôn mặt khóc cho dân sự: Dù mạnh mẽ lên án dân tộc của mình về những hành vi gian ác chống nghịch Đức Chúa Trời của họ nhưng Giê-rê-mi rất yêu thương họ. Ông van xin, cầu thay cho họ ngay cả khi Đức Chúa Trời bảo ông đừng cầu xin cho họ nữa:

"Cho nên ngươi chớ vì dân nầy mà cầu thay; đừng vì nó mà cất tiếng khấn vái cầu nguyện, cũng đừng cầu thay cùng ta, vì ta sẽ chẳng nghe ngươi." (7:16)

"Vậy ngươi chớ cầu thay cho dân nầy; chớ vì chúng nó lên tiếng kêu cầu; vì khi chúng nó nhơn cớ hoạn nạn mà kêu đến Ta, Ta chẳng thèm nghe." (11:14)

"Đức Giê-hô-va lại phán cùng tôi rằng: Chớ cầu sự lành cho dân nầy." (14:11)

Giê-rê-mi van xin Chúa:

"Hỡi Đức Giê-hô-va, chúng tôi nhìn biết điều ác chúng tôi và tội lỗi của tổ phụ chúng tôi, vì chúng tôi đều phạm tội nghịch cùng Ngài. Xin hăy vì danh Ngài, chớ chán chúng tôi, và chớ để nhục ngôi vinh hiển của Ngài! Xin Ngài nhớ lời giao ước với chúng tôi mà chớ hủy." (14:20, 21)

Dầu vậy, khi ông rao truyền lời Chúa cho dân tộc ông, họ đã cư xử với ông như sau:

"Các thầy tế lễ, các tiên tri, và cả dân sự đều nghe Giê-rê-mi truyền những lời ấy trong nhà Đức Giê-hô-va. Khi Giê-rê-mi nói xong mọi điều Đức Giê-hô-va đă truyền mình nói cho cả dân sự, thì các thầy tế lễ, các tiên tri, và cả dân sự đều bắt lấy người và nói rằng: Ngươi chắc sẽ chết!" (26:7, 8)

Trong tất cả các tiên tri của Y-sơ-ra-ên và Giu-đa, Giê-rê-mi là người đã khóc vì tội ác và sự hủy diệt của dân tộc mình hơn ai hết. Chúng ta hãy cùng nhau đọc những lời than khóc của ông và hãy biết rằng, những giọt nước mắt của Giê-rê-mi đổ ra cho dân tộc của ông là hình ảnh của những giọt nước mắt của chính Đức Chúa Trời đã và đang khóc cho tội lỗi và sự hư mất của mỗi một linh hồn tội nhân không chịu ăn năn, không chịu đón nhận ân điển cứu rỗi của Ngài:

"Ôi! tôi đau lòng, đau lòng! Cơn đau đớn quặn thắt lòng tôi; lòng đương bối rối trong tôi. Tôi không thể làm thinh! Hỡi linh hồn tôi, vì mầy nghe giọng kèn và tiếng giặc giã."
(4:19)

Ôi! ước gì đầu tôi là suối nước, mắt tôi là nguồn lụy! hầu cho tôi vì những kẻ bị giết của con gái dân ta mà khóc suốt ngày đêm.” (9:1)

"Mắt ta hao mọ̀n vì chảy nước mắt, ḷòng ta bối rối; Gan ta đổ trên đất, vì sự hủy diệt con gái dân ta. Vì con trẻ và các con đương bú, ngất đi nơi các đường phố trong thành." (Ca Thương 2:11)

"Mắt tôi chảy ḍòng nước, vì gái dân tôi mắc diệt vong. Mắt tôi tuôn nước mắt, không thôi cũng không ngớt, Cho đến chừng nào Đức Giê-hô-va đoái xem, từ trên trời ngó xuống." (Ca Thương 3:48-50)

Thật vậy, nỗi đau đớn của Giê-rê-mi chính là nỗi đau đớn của Đức Chúa Trời vì Ngài phán cùng ông rằng:

"Ngươi khá bảo cho chúng nó lời nầy: Mắt Ta rơi lụy đêm ngày chẳng thôi; vì gái đồng trinh của dân Ta bị tồi tàn, bị thương rất là đau đớn." (14:17)

 

Kết luận

 

Bài học lịch sử về vương quốc Giu-đa trong đời Giê-rê-mi và sứ điệp của ông tiêu biểu cho thực trạng của nhân loại và mối quan hệ giữa Đức Chúa Trời với tội nhân. Đặc biệt, trong thời đại của chúng ta, có thể nói là thời đại cuối cùng của mọi thời đại, khi tội lỗi đang ngập tràn cả thế gian và các dấu hiệu về sự Chúa đến đang dồn dập xảy ra: các điềm lạ trên trời, thiên tai, chiến tranh, đói kém, dịch lệ, Christ giả, tiên tri giả, đạo đức suy đồi đến nỗi hàng triệu thai nhi bị giết mỗi ngày và luật pháp hợp thức hóa hôn nhân giữa những người đồng tính luyến ái, cùng sự bội đạo kinh khủng hơn bao giờ hết khi các giáo hội mang danh Chúa bác bỏ thần tính của Đấng Christ, bác bỏ thẩm quyền của Thánh Kinh, lấy danh Đấng Christ ra khỏi Thánh Kinh, chấp nhận những người chăn đồng tính luyến ái hoặc thay đổi giống tính... thì sứ điệp của Giê-rê-mi hơn bao giờ hết là một sứ điệp sống động, cấp thiết mà mỗi con dân Chúa cần phải tích cực rao truyền cho Hội Thánh và thế giới.

Riêng đối với dân tộc Việt Nam, con dân Chúa người Việt chính là những nhà tiên tri, những thầy tế lễ của Đức Chúa Trời được Chúa đặt ra giữa lòng dân tộc với nhiệm vụ cầu thay, rao giảng, kêu gọi dân tộc Việt Nam ăn năn, quay về với nguồn cội thiên thượng để nhận lại quyền phép trở nên con cái của Đức Chúa Trời trước khi cơn đại nạn vô tiền khoáng hậu giáng xuống trên toàn thể nhân loại (Ma-thi-ơ 24:21).

 

Chú Thích

 

[1] Mục vụ của Giê-rê-mi bắt đầu vào năm thứ 13 đời Vua Giô-si-a (1:2), tức năm 626 TCN và chấm dứt với cái chết của ông khoảng vài năm sau khi Ba-by-lôn tiêu diệt Giê-ru-sa-lem năm 586 TCN.

[2] “Hỡi Đức Giê-hô-va, tôi biện luận cùng Ngài, Ngài thật công bình; dầu vậy, tôi còn muốn biện luận cùng Ngài. Sao đường lối những kẻ ác được thạnh vượng? Sao những người gian trá được yên ổn?”

[3] “Cớ sao sự đau đớn của tôi cứ còn hoài? Cớ sao vết thương của tôi không chữa được mà nó không chịu khỏi? Ngài đối với tôi hẳn như cái khe giả dối, cái suốt tắt mạch hay sao?”

[4] Bức Tường Than Khóc (The Wailling Wall) là di tích còn sót lại của thành Giê-ru-sa-lem sau khi thành này bị quân đội La-mã tàn phá vào năm 70. Đây là bức tường phía Tây, có bề cao 57m và bề dài 488m, được Vua Hê-rốt cho xây dựng vào năm 19 TCN.

[5] 40 năm dưới triều đại A-sa, 25 năm dưới triều đại Giô-sa-phát, 40 năm dưới triều đại Giô-ách, 29 năm dưới triều đại A-ma-xia, 52 năm dưới triều đại A-xa-ria, 16 năm dưới triều đại Giô-tham, 29 năm dưới triều đại Ê-xê-chia, và cuối cùng thêm 31 năm dưới triều đại Giô-si-a (I & II Các Vua).

 

Huỳnh Christian Timothy
http://tinlanhmedia.net
http://tinlanhvietnam.net
Người Việt Về Nguồn 2008
Westminster, California, USA
08/06/2008


Tiếng Gọi Của Giê-rê-mi

 

“Nghịch cùng cả đất nầy, nghịch cùng các vua Giu-đa, các quan trưởng nó, các thầy tế lễ, và dân trong đất”

(Giê-rê-mi 1:18)

Nghe audio - Xem video



1- Ý Chúa cho mỗi Cơ-đốc nhân

Đức Chúa Jesus Christ, là Con của Người 100%, dùng chính cuộc sống ngắn ngủi của Ngài trên đất để dạy cho chúng ta một bài học rằng ý của người phải quy phục ý của Đức Chúa Trời. Trước khi chịu thương khó, Đức Chúa Jesus cầu nguyện rằng “Cha ơi! nếu chén nầy không thể lìa khỏi Con được mà Con phải uống thì xin ý Cha được nên” (Ma-thi-ơ 26:42). Phao-lô trong thánh thư gởi cho tín đồ thành Ê-phê-sô viết rằng: “Phao-lô, theo ý muốn Ðức Chúa Trời, làm sứ đồ của Ðức Chúa Jêsus Christ...” (1:1). Thật như vậy, Sao-lơ, là đang là một người Pha-ri-si, đi săn giết Hội Thánh, quy phục trước tiếng gọi của Đức Chúa Jesus Christ để trở thành Sứ Đồ Phao-lô. Có bao giờ chúng ta tự hỏi ý Chúa muốn chúng ta hầu Ngài việc gì trong Hội Thánh, hay chúng ta chỉ đi nhóm trong ngày chủ nhật, vì thói quen thường lệ, vì sợ mang mặc cảm tội lỗi khi trốn ở nhà, hay sợ anh em Cơ-đốc nhân chê cười? Anh chị em có làm theo ý muốn của Đức Chúa Trời để từ xa tới đây cầu nguyện cho dân tộc và Hội Thánh Việt Nam hay vì tò mò mà tới? Các anh chị em bên Việt Nam đang thức đêm hiệp nguyện với chúng tôi trên mạng, có làm theo ý muốn Đức Chúa Trời không hay chỉ làm việc xác? Có khi nào chúng ta tự hỏi rằng mình có nên bỏ công việc làm ăn ngoài xã hội của mình để đi hầu việc Chúa toàn thời, hay chúng ta quyết chắc rằng Chúa muốn mình hầu việc Ngài từ vị trí đó? Hay chúng ta có tự hỏi Chúa muốn mình lập gia đình với người nào, có bao nhiêu đứa con, và dạy dỗ con cái như thế nào? Tất cả những câu hỏi này thuộc về phạm trù cá nhân mà mỗi Cơ-đốc nhân phải có câu trả lời.

2- Ý Chúa cho Hội Thánh - Vai trò của thầy tế lễ

Dù ý Chúa cho mỗi cá nhân khác nhau, nhưng ý Ngài cho Hội Thánh là một. Chúa gọi chúng ta là thầy tế lễ qua Sứ đồ Phi-e-rơ rằng: “Nhưng anh em…là chức thầy tế lễ nhà vua” (1 Phi-e-rơ 2:9). Thầy tế lễ làm gì? Cựu Ước có nói rõ rằng thầy tế lễ đứng trước Đức Chúa Trời để cầu thay cho dân sự mình. Họ là nhân công của Ngài để phục vụ cho dân sự mình về mặt thuộc linh. Hiện nay, thầy tế lễ chính là Hội Thánh, là những người đứng giữa Đức Chúa Trời và người chưa biết Chúa để làm công việc cầu thay cho họ. Vấn đề là chúng ta có quy phục Ngài mà nhận trách vụ của mình hay không.

Thánh kinh cho chúng ta biết rằng, Đức Chúa Jesus đến trong dân Ngài nhưng họ chẳng nhận Ngài. “Nhưng hễ ai đã nhận Ngài, thì Ngài ban cho quyền phép trở nên con cái Ðức Chúa Trời” (Giăng 1:12). Thật là kỳ diệu vì muốn trở thành con cái Đức Chúa Trời thì phải cần có quyền phép của chính Ngài ban cho. Câu hỏi được đặt ra là nếu không tiếp nhận Ngài để được trở thành con cái Ngài thì chúng ta là gì, con cái của ai? Câu trả lời nằm trong 1 Giăng 3:10 rằng: “Bởi đó, người ta nhận biết con cái Ðức Chúa Trời và con cái ma quỉ.” Nghĩa là chỉ có hai nhóm con cái: một là con của Đức Chúa Trời, và hai là con của ma quỉ; không có loại trung dung. Con cái của ma quỉ bao gồm ông bà, cha mẹ, anh chị em, vợ, chồng, con cái không/chưa tin Chúa của chúng ta. Nếu chỉ có hai loại con cái, thì sẽ có hai thế giới tâm linh: một thuộc về Đức Chúa Trời, là thế giới của ánh sáng chân lý, của tình yêu và công chính; hai thuộc về ma quỉ, là thế giới của bóng tối, của sự lừa dối, mờ mịt, của thù hận và bất công. Hai thế giới tâm linh đó một là Thiên Đàng, là nơi Đức Chúa Trời ngự, hai là hoả ngục, là nơi Satan sẽ bị nhốt đời đời.

Trước khi được Chúa cứu, tức là được tái sinh vào trong gia đình của Đức Chúa Trời chúng ta cũng như tất cả những kẻ chưa/không tin Chúa khác, là kẻ thù của Thiên Chúa (Rô-ma 5:10). Khi đó chúng ta là những thân xác biết đi nhưng linh hồn đã chết vì đã “xa cách sự sống của Ðức Chúa Trời” (Ê-phê-sô 4:18). “…Kẻ sống theo xác thịt thì chăm những sự thuộc về xác thịt…Chăm về xác thịt sanh ra sự chết, … vì sự chăm về xác thịt nghịch với Ðức Chúa Trời, bởi nó không phục dưới luật pháp Ðức Chúa Trời, lại cũng không thể phục được. Vả, những kẻ sống theo xác thịt, thì không thể đẹp lòng Ðức Chúa Trời” (Rô-ma 8:5-6). Đặc tính của người xác thịt là “…không nhận được những sự thuộc về Thánh Linh của Ðức Chúa Trời; bởi chưng người đó coi sự ấy như là sự dồ dại, và không có thể hiểu được, vì phải xem xét cách thiêng liêng” (1 Cô-rinh-tô 2:14).

Vì người xác thịt (tức là người không/chưa tiếp nhận Chúa Jesus) đã cách li khỏi sự sống của Đức Chúa Trời, nên không thuộc về nước trời, vì: “…thịt và máu chẳng hưởng nước Ðức Chúa Trời được, và sự hay hư nát không hưởng sự không hay hư nát được” (1 Cô-rinh-tô 15:50). Người thuộc linh là người đã được nối lại với sự sống của Đức Chúa Trời sau khi đã tin nhận Cứu Chúa Jesus Christ. Những người đó được gọi là “đã được lại sanh, chẳng phải bởi giống hay hư nát, nhưng bởi giống chẳng hay hư nát, là bởi lời hằng sống và bền vững của Ðức Chúa Trời” (1 Phi-e-rơ 1:23). Khi đã được tái sinh (tức là phần linh đã được sống lại) thân xác chúng ta vẫn chết dần, nhưng chúng ta được lời hứa của Đức Chúa Trời là cũng sẽ được phục sinh qua sự Phục Sinh của Đức Chúa Jesus Christ trong ngày Chúa Tái Lâm: “Sự sống lại của kẻ chết cũng như vậy. Thân thể đã gieo ra là hay hư nát, mà sống lại là không hay hư nát” (1 Cô-rinh-tô 15:42).

Khi đã trở nên con người thuộc linh, chúng ta bắt đầu hiểu biết lời Chúa: “Về phần chúng ta, chúng ta chẳng nhận lấy thần thế gian, nhưng đã nhận lấy Thánh Linh từ Ðức Chúa Trời đến, hầu cho được hiểu biết những ơn mà chúng ta nhận lãnh bởi Ðức Chúa Trời” (1 Cô-rinh-tô 2:12). Người tái sinh là những trẻ con trong Chúa, được Ngài mở mắt ra để cho thấy công việc của Ngài. (Đây cũng là sự cảnh báo cho những ai tự nhận mình là thánh đồ nhưng không đọc và không hiểu Thánh Kinh.) Đức Chúa Jesus Christ đã ngợi khen Đức Chúa Cha về những “đứa trẻ em” này như sau: “Hỡi Cha! là Chúa đã giấu những điều này với kẻ khôn ngoan, người sáng dạ, mà tỏ ra cho những con trẻ hay (Ma-thi-ơ 11:25). Trong khi người xác thịt, vẫn còn là kẻ thù của Thiên Chúa, đang mất đi mối tương giao với Ngài, chúng ta là những người thuộc linh, không những không còn là kẻ thù của Thiên Chúa nữa mà có thể tiến tới ngôi ơn phước một cách dạn dĩ (Hê-bơ-rơ 4:16). Vì mối tương giao với Đức Chúa Trời đã được nối lại, chúng ta mới có thể cầu thay cho người hư mất với tư cách là thầy tế lễ. Cầu nguyện cho người hư mất là một phần không thể thiếu được trong công tác mở mang nước trời mà Đức Chúa Jesus Christ đã giao phó cho chúng ta:  “Vậy, hãy đi dạy dỗ muôn dân, hãy nhơn danh Ðức Cha, Ðức Con, và Ðức Thánh Linh mà làm phép báp tem cho họ, và dạy họ giữ hết cả mọi điều mà ta đã truyền cho các ngươi.” (Ma-thi-ơ 28: 19). Hội thánh Việt Nam phải là thầy tế lễ của Chúa cho dân tộc Việt Nam chưa được cứu vì khi đã chết tâm linh, đồng hương của chúng ta chưa biết nhu cầu thuộc linh của mình là gì.

3- Ý Chúa cho Người Việt Về Nguồn (NVVN)

NVVN được thành lập để cầu xin Chúa giải quyết những vấn nạn của dân tộc Việt Nam. Một trong các vấn nạn đó là chính trị. Vì hiểu lầm NVVN là một tổ chức đấu tranh chính trị bằng phương cách khuấy động quần chúng qua mặt tôn giáo, một số người có khuynh hướng đấu tranh thoạt đầu đặt nhiều kỳ vọng vào NVVN. Cũng có một số người khác, nhất là tín đồ trong các hệ phái của Cơ-đốc giáo vì hiểu lầm NVVN là tổ chức đấu tranh tôn giáo nên chẳng bao giờ tham gia hiệp nguyện. Một số người còn lại không kinh nghiệm nhiều vào quyền năng của sự cầu nguyện nên cũng chẳng bao giờ tham gia. NVVN không những làm công việc thầy tế lễ cho dân tộc Việt Nam mà còn đáp lại lời kêu gọi của Đức Chúa Trời để nói nghịch lại các thành phần sau đây:

3.1- Nói nghịch với các vua quan
Thánh Kinh cho biết rằng bắt đầu khi tổ phụ của loài người phạm tội, quan hệ giữa người và người bị đổ vở, từ mức độ cá nhân tới liên quốc gia. Cả nhân loại đang vật lộn trong quan hệ đổ vở đó. Vì vậy mới có sự bất công xã hội, chiến tranh vùng, và thế chiến. Tuy vậy cũng có một số rất ít các quốc gia có một sự công bằng xã hội “tương đối” trong đó mọi người được tự do thờ phượng đấng mà mình muốn thờ. NVVN không chủ trương tự do tôn giáo. Đó chỉ là cách nói khéo cho sự tự do thờ hình tượng, nhưng chúng ta cầu xin Chúa cho dân tộc Việt Nam được quyền tự do nhận Ngài hay chối bỏ Ngài. Đây là quyền tự do của loài người mà chính Chúa cho phép. Ấy vậy, quyền này đang bị chính quyền hay nói theo ngôn ngữ Thánh Kinh, là các “vua quan” Việt Nam, từ khuớc. NVVN không chủ trương dùng sự cầu nguyện để lật đổ chính quyền CSVN, vì việc dựng vua và phế vua là công việc của Đức Chúa Trời. Chúng tôi tin rằng mọi quyền lực chính trị đều do Chúa thiết lập (Rô-ma 13:1), nhưng không có quyền lực nào vượt quá quyền lực của Đức Chúa Trời. Chính quyền Việt Nam bây giờ cũng thối nát như các vua quan thời tiên tri Giê-rê-mi đang sống.  Tuy vậy, họ cũng đều do Đức Chúa Trời lập nên vì một mục đích của Ngài. Dù vậy, tiên tri Giê-rê-mi không sợ hãi nói nghịch lại với họ cũng như chúng ta vâng theo lời Chúa nói nghịch lại với bất cứ chính quyền nào thiết lập chế độ vô thần hay ra các điều luật vô luân (như phá thai, đồng tính luyến ái, v.v.) trên đất nước Việt Nam. Cơ-đốc nhân trong khi sống tạm trên đất phải tuân phục chính quyền, hay cụ thể hơn là luật pháp do chính quyền đặt ra (Rô-ma 13:1) nếu các luật pháp đó không đi ngược với luật pháp của Đức Chúa Trời. Mỗi khi luật pháp của chính quyền trở nên chống nghịch Đức Chúa Trời thì chúng ta thà “vâng lời Đức Chúa Trời hơn vâng lời người ta” (Công Vụ 5:29). Khi chính quyền đi nghịch lại ý Chúa, chúng tôi được tiếng gọi của Ngài để nói nghịch lại họ, trong chân lý Thánh Kinh. Cơ-đốc nhân trên bình diện chính trị phục tòng chính quyền như các công dân khác, nhưng luôn luôn giữ vai trò lãnh đạo thuộc linh vì chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. Chúng ta là “…muối của đấ,…là sự sáng của thế gian” (Ma-thi-ơ 5:13,14). NVVN được sự kêu gọi của Đức Chúa Trời, để nói nghịch lại bất cứ chính quyền nào đang ra những luật trái lại với luật pháp của Đức Chúa Trời. Nói cách khác, NVVN không tham gia đấu tranh chính trị, nhưng tiến hành chiến trận thuộc linh trong sự cầu nguyện và rao truyền lời Chúa, nghịch lại quyền lực tối tăm đang chi phối người Việt Nam trong đó có chính quyền Việt Nam.

3.2- Nói nghịch với cả dân trên đất
Nói nghịch với chính quyền Việt Nam không có nghĩa là NVVN hòa hiệp với văn hoá cổ truyền VN trong khi hầu việc Chúa. Chúng ta biết rằng thế gian là thù địch với Đức Chúa Trời (Rô-ma 5:10). Nếu một người không có Đức Chúa  Trời ngự trị trong tâm linh, thì người đó ắt thờ hình tượng. Trong sự thờ cúng hình tượng đó sản sinh ra cái gọi là văn hoá, điển hình là văn hóa Việt Nam mà chúng ta thấy rõ ràng là đầy dẫy hình tượng. Do đó, văn hoá của thế nhân là điều gớm ghiếc trước mặt Ngài. Cho nên NVVN chủ trương tách biệt với tất cả các hình thức sinh hoạt với văn hóa loài người (cụ thể là hiệp nguyện với các tôn giáo khác) trong khi cầu nguyện cho đất nước. Chúng ta khao khát được sống trong sự hoà bình với thế gian trong khi còn ở trên đất, nhưng nếu cần chúng ta vẫn tuân theo lời Chúa để nói nghịch lại với cả thế gian trong khi trình bày lẽ thật về Ngài. Chúng ta yêu thế nhân vì Chúa Jesus yêu họ mặc dù họ bắt bớ Hội thánh, vì ghét Ngài (Giăng 7:7, 15:18), nhưng chúng ta không yêu thế gian và những gì thuộc về nó (1 Giăng 2:15). Vì vậy chúng ta mặc dù yêu thương người Việt Nam hư mất mà từ đó mới có sự cầu nguyện cho dân tộc này – chúng ta không thể, dù bất cứ hình thức nào, hoà hiệp với thế gian qua sự thoả hiệp với các tôn giáo hoặc văn hoá của Việt Nam. Rao truyền Tin Lành không phải chỉ là rao truyền con đường sống theo Giăng 3:16, nhưng cũng là sự rao truyền con đường chết bên cạnh đó (Giăng 3:18). Cơ-đốc nhân không mị thế nhân hoặc sợ đám đông là thế gian, là khối người vẫn còn là kẻ thù của Đức Chúa Trời, nhưng Cơ-đốc nhân phải là muối và ánh sáng của Đức Chúa Trời trong thế gian bằng cách rao truyền cả sự phán xét của Ngài. 

3.3- Nói nghịch cả với các “thầy tế lễ”
Khi NVVN mới ra đời chúng tôi chỉ làm theo sự thôi thúc trong lòng là dân tộc Việt Nam cần được cầu thay. Sự cầu nguyện nói chung và cầu nguyện cho dân tộc Việt Nam là điều ít thấy trong các Hội Thánh điạ phương của Việt Nam tại hải ngoại. Vì vậy NVVN ra đời để góp phần vào việc lấp đầy lỗ trống đó.

Dần dần Chúa dẫn chúng tôi tới chổ nhận thức rằng sự phục hưng tâm linh của dân tộc không thể xẩy ra trong khi Hội Thánh chưa được phục hưng. Muốn được phục hưng, Hội Thánh phải được bắt đầu bằng sự giật mình tỉnh thức để trở về với lời Đức Chúa Trời. Chúng tôi không thể hình dung ra được có một cuộc phục hưng mà không bắt đầu bằng sự trở lại với lời Chúa. Hội thánh không thể phục hưng nếu Hội Thánh không đặt sự ăn nuốt lời Đức Chúa Trời quan trọng hơn mọi việc, kể cả việc xây dựng giáo phái. Hội thánh không thể phục hưng được nếu Hội Thánh thoả hiệp với ngoại giáo để lấy lòng hầu có quân số đông. Một là Hội Thánh trở lại với lời của Đức Chúa Trời, hoặc Hội Thánh sẽ thoả hiệp với thế gian chứ không có một con đường lưng chừng. Nếu Hội Thánh thoả hiệp với thế gian thì “thầy tế lễ” sẽ thờ thần tượng như trong thời của tiên tri Giê-rê-mi, trước khi dân Do-thái bị đi đày qua Ba-by-lôn. Đó là thời có những tiên tri giả, ru ngủ dân sự Chúa trong sự an bình giả tạo trong khi sự phán xét của Ngài đã đến gần. Tiếng gọi của NVVN còn là tiếng gọi cho sự cầu nguyện cho Hội Thánh Việt Nam, để Chúa thanh tẩy trước và sau đó khôi phục địa vị lãnh đạo thuộc linh cho Hội Thánh Việt Nam. Tiếng gọi của NVVN cũng là tiếng gọi của sự nói nghịch với các “thầy tế lễ” giả thời đại - những người được Đức Chúa Trời kêu gọi để mở mang nước trời, nhưng thỏa hiệp với thế gian mờ tối này về các phương diện chính trị, văn hoá, thần học, v.v. Đây là những “thầy tế lễ” trộn đạo Chúa với các triết lý tôn giáo thế gian, hay thoả hiệp với ác quyền để bắt bớ anh em trong Chúa. Họ là những người đang nghĩ rằng mình phục vụ Chúa nhưng thật sự đang hủ hoá Hội Thánh Chúa.  Sự cầu nguyện của chúng ta không phải là sự cầu nguyện suông, nhưng đi cùng với sự trình bày lẽ thật của Đức Chúa Trời - nhân danh Đức Chúa Jesus - trong thời buổi nhiễu nhương của cả Hội Thánh Việt Nam và đất nước Việt Nam.

Nói tóm lại, NVVN được Đức Chúa Trời kêu gọi tham gia vào một chiến trận thuộc linh trong sự cầu nguyện cho sự cứu rỗi của dân tộc Việt Nam, và cũng là sự nói nghịch với cả thế gian mờ tối này bằng sự trình bày lẽ thật của Đức Chúa Trời.

Lê Anh Huy
http://hoptinhhoply.net
http://prayers4vn.net
Người Việt Về Nguồn 2008
Westminster, CA, USA
07/06/2008

 


Lời kêu gọi

Đại Hội Người Việt Về Nguồn 2008
Lời Kêu Gọi

Nhấp vào đây để nghe: "Xin Cha thương Dân Tộc Con"

Đại hội Người Việt Về Nguồn được tổ chức vào Thứ Bảy và Chủ Nhật của tuần lễ đầu tháng 6 hàng năm, với mục đích: kiêng ăn, cầu nguyện cho đất nước và Hội Thánh Việt Nam. Đây là một đại hội cầu nguyện của những Cơ-đốc nhân tức là những người đã thật lòng ăn năn tội, tin nhận sự chết chuộc tội của Đức Chúa Jesus Christ trên thập tự giá và qua đó đã được tái sinh vào Nước Trời.

Chương trình sinh hoạt chi tiết

NGƯỜI VIỆT VỀ NGUỒN 2008
CHƯƠNG TRÌNH KIÊNG ĂN CẦU NGUYỆN
CHO HỘI THÁNH VÀ QUÊ HƯƠNG, DÂN TỘC VIỆT NAM

Thứ Bảy ngày 7 và Chủ Nhật 8 tháng 6 năm 2008
Tại Westminster, California, USA

Syndicate content